![]() | conggiaovatican.com - Kênh Tiếng Việt |
|
Sư Huynh Phêrô Dimond, O.S.B. Như nhiều người đã biết, Phanxicô qua đời vào ngày 21 tháng 4 năm 2025. Video này sẽ trình bày ba điểm chính. Trước khi đi vào các điểm đó – và chúng đều rất quan trọng – chúng tôi muốn nói rằng chúng tôi thực sự ước gì Phanxicô đã khác đi. Chúng tôi ước gì ông đã trung thành với đức tin Công giáo chân chính, đức tin mà ông đã lãnh nhận khi còn là một đứa trẻ qua bí tích Rửa Tội. Đó chính là lý do tại sao chúng tôi làm những gì mình đang làm: để mọi người gắn bó với đức tin chân thật duy nhất và cứu rỗi linh hồn mình. Tuy nhiên, như đã chứng minh một cách tường tận, sự thật đáng buồn là Phanxicô là một kẻ lạc giáo công khai, một kẻ chối đạo, và là một ngụy Giáo hoàng – người sẽ đi vào lịch sử như một trong những kẻ thù tồi tệ nhất của Giáo hội Công giáo. Đó là sự thật. Bất kỳ ai nói với bạn điều ngược lại đều đang lừa dối bạn. Phanxicô đã dạy rằng mọi tôn giáo đều là con đường dẫn đến Thiên Chúa. CÙNG NHAU TRONG SỰ HIỆP NHẤT VÀ HY VỌNG
Chỉ riêng tuyên bố này là đủ để chứng minh rằng ông ta là một kẻ chối đạo trầm trọng, không một chút nào là Công giáo. Nhưng Phanxicô còn rao giảng vô vàn lạc giáo khác. Ngoài việc thường xuyên cổ vũ việc thờ ơ tôn giáo, ông còn tham gia vào các hình thức thờ phượng ngoại giáo và không Công giáo, bao gồm cầu nguyện theo nghi lễ Phật giáo, cầu nguyện với ‘vòng linh hồn thiêng’, và nhiều hành vi khác.
PHANXICÔ TẠI CANADA: Đức Giáo hoàng tham gia nghi lễ chào đón truyền thống của người bản địa. Ông ta ủng hộ sự vô đạo đức nghiêm trọng và đề bạt những kẻ cổ vũ cho điều đó.
Ông chính thức chấp thuận việc ‘ban phép lành’ cho các cặp sống trong tình trạng ngoại tình, gian dâm, và đồng tính luyến ái.
Phanxicô không lên án những người ủng hộ phá thai và đồng tính luyến ái khét tiếng – ngược lại, ông ta còn khuyến khích họ.
Phanxicô lên án án tử hình, công khai đồng ý với Martin Luther về giáo lý ơn công chính hóa, và quảng bá thuyết duy tân dưới nhiều hình thức khác nhau.
Chúng ta có thể tiếp tục liệt kê nhiều điều nữa, như chúng tôi đã làm trong các video và bài viết của mình. Ông ta rêu rao lạc giáo rằng tất cả những ai đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội đều thuộc về Hội Thánh của Chúa Kitô. Ông ta nhiều lần dạy rằng không được phép tìm cách thuyết phục người khác theo đạo, và còn nhiều điều nữa.
Tất cả những việc này đều được biết đến. Đây là sự thật, bất chấp những kẻ gian tà sẽ nói dối và đưa ra tuyên bố sai trái dẫn đến án phạt lên chính họ. Phanxicô hoàn toàn không phải là người Công giáo.
Hãy ghi nhớ tất cả những sự thật này khi ta thấy vô số người trong “Giáo hội Vaticanô II” – nhiều người trong số họ tự nhận là bảo thủ – ca ngợi tên lạc giáo khủng khiếp này, và hành xử như thể ông ta là người tốt, hoặc đã được cứu rỗi theo như cách mà ông ta đã sống.
Họ mất trí rồi à? Chỉ riêng việc Phanxicô ủng hộ James Martin – nếu không ăn năn sám hối – đã đủ để kết án ông ta xuống hỏa ngục.
Chỉ riêng tuyên bố rằng mọi tôn giáo đều là con đường dẫn đến Thiên Chúa cũng đủ để kết án Phanxicô xuống hỏa ngục. Ông ta không phải là Kitô hữu. Những người cổ vũ và làm những điều ông ta đã làm thì không lên Thiên Đàng, mà xuống hỏa ngục. Những kẻ ca ngợi Phanxicô hoặc hành xử như thể ông ta là người tốt hay có thể được cứu rỗi theo cách mà ông ta đã sống, thì tự chứng minh rằng họ không phải là người Công giáo. Thẳng thắn mà nói, họ không có sự kính sợ luật Chúa, không hiểu gì về đức công chính của Thiên Chúa, và không tin vào mặc khải của Người. Họ không từ bỏ lạc giáo, không ghét sự dữ. Họ chỉ đơn thuần là những kẻ chối đạo. Nhân tiện, nhiều người – do thiếu sự hiểu biết về đức tin Công giáo đích thực – giữ một quan điểm sai lầm rằng bất kể một người đã sống xấu xa đến đâu, thì ta không bao giờ nên kết luận rằng người đó đã xuống hỏa ngục. Đây là một quan niệm hoàn toàn sai lầm, và bị bác bỏ bởi nhiều tuyên bố của các vị thánh và các Giáo hoàng. Ví dụ, Giáo hoàng Stêphanô II đã nói rằng vua người Lombard, Aistulf, vì cuộc đời tội lỗi và cái chết không sám hối của ông ta, thì “đã chìm xuống hố hỏa ngục”.
1 Côrintô 6 cho chúng ta biết rằng tất cả những ai chết trong gian dâm, ngoại tình, đồng tính… thì đều bị hư mất.
Ngoài tất cả những điều khác mà ông ta đã làm, Phanxicô còn phạm phải vô vàn tội trọng bằng cách chấp thuận, biện minh, và ‘ban phép lành’ cho những người ngoan cố sống trong các tội trên và còn cổ vũ cho hành động đó. Chỉ mỗi điều này – nếu thiếu đi sự ăn năn hoán cải – cũng đủ để kết án một người xuống hỏa ngục. Và không có bằng chứng nào cho thấy Phanxicô đã hoán cải. Trái lại, ông ta vẫn cố chấp trong tôn giáo lầm lạc của mình (và trong những lạc giáo khác) cho đến phút cuối, thậm chí trong chính bài phát biểu sau cùng của ông.
Việc Đức Giáo hoàng tham dự Đại hội lần thứ 7 của các Nhà Lãnh đạo Tôn giáo Thế giới và Tôn giáo Truyền thống tại Cung Hòa bình và Hòa giải ở Nur-Sultan đã được mong đợi với nhiều sự phấn khởi. Cuộc gặp gỡ liên tôn diễn ra vào ngày thứ hai của chuyến tông du. Ngoài sự hiện diện của Đức Thánh Cha và Đức Hồng y Pietro Parolin, Quốc vụ khanh Tòa Thánh, còn có các đại diện của Do Thái giáo, Hồi giáo, Chính Thống giáo và Phật giáo tham dự.
Ông ta là một kẻ lạc giáo khét tiếng.
Theo giáo lý từ Huấn quyền Công giáo (mà chúng tôi vâng phục), người Công giáo bị nghiêm cấm cầu nguyện cho những người đã chết bên ngoài Giáo hội Công giáo, hoặc cho rằng họ đã được cứu rỗi. Giáo hoàng Thánh Grêgôriô VII, sau ngày 24 tháng 6 năm 1082:
Chúng tôi có hai video về vấn đề này, trong đó trích dẫn năm vị Giáo hoàng mang tên Grêgôriô, cũng như Giáo hoàng Martinô V. Giáo hoàng Martinô V, Inter Cunctas, ngày 22 tháng 2 năm 1418: “Hơn nữa, chúng ta… tuyên bố rằng, nếu có ai bị coi là mang tiếng xấu hoặc bị nghi ngờ… về giáo thuyết của những tên lạc giáo độc hại đã nói trên là John Wycliffe, John Hus và Giêrônimô thành Prague, hoặc bằng cách ủng hộ, tiếp nhận hay bênh vực những kẻ đã bị kết án ấy cùng bè lũ phản nghịch và giả môn đệ của chúng khi họ còn sống giữa loài người, hoặc bằng cách tin theo các sai lầm của chúng, cầu nguyện cho chúng khi đã qua đời, hay cho bất kỳ ai thuộc phe nhóm ấy sau khi họ qua đời…” Tất cả các Giáo hoàng trên đều dạy rằng người Công giáo bị cấm cầu nguyện cho những kẻ lạc giáo đã chết hoặc những người không phải là Công giáo đã qua đời. Điều sau đây trích từ Bộ Giáo Luật của Giáo hoàng Grêgôriô IX, công bố năm 1234, từng là một phần của luật Giáo hội, và chỉ đơn giản phản ánh điều mà Giáo hội luôn dạy. Giáo hoàng Grêgôriô IX, Bộ Giáo Luật (Decretales), Quyển V, Tiêu đề VII De Haereticis, Chương 8, năm 1234:
Hãy chú ý: người Công giáo không được phép cầu nguyện cho những kẻ lạc giáo đã qua đời, như Phanxicô. Và nếu bạn phủ nhận rằng Phanxicô là một kẻ lạc giáo bất chấp các bằng chứng tường minh, thì bạn chỉ đơn giản là không có đức tin. Bạn tuyên xưng một đức tin giả dối. Bạn thực chất đang liên kết với những người tuyên bố rằng mọi tôn giáo đều dẫn đưa con người đến với Thiên Chúa. Bạn tin rằng con người có thể trong hiệp thông với Thiên Chúa, trong khi họ ủng hộ những điều ghê tởm trên. Không, họ không thể. Giáo huấn mà chúng tôi trích dẫn – vốn cấm việc cầu nguyện cho những người không phải là Công giáo đã qua đời – cấm đoán cả việc cầu nguyện công khai lẫn việc cầu nguyện riêng.
Điều này đã được nói rất rõ trong giáo huấn của Giáo hoàng Martinô V và Giáo hoàng Grêgôriô XVI. Điều này cũng được trình bày trong các video của chúng tôi.
Bạn không được phép phủ nhận đức tin Công giáo trong đời sống cá nhân. Việc cầu nguyện cho một kẻ lạc giáo khét tiếng như Phanxicô sau khi ông ta qua đời, đặc biệt khi ông ta không có dấu hiệu của sự hoán cải, là thực hiện việc tuyên tín một cách giả dối. Điều này hàm ý rằng một người có thể sống và tin như ông ta mà vẫn được lên Thiên Đàng. Đây là điều trái ngược với giáo huấn Công giáo và với mặc khải của Thiên Chúa. Giáo hoàng Êugêniô IV, Công đồng Florence, “Cantate Domino,” 1441, ex cathedra: “Giáo hội La Mã Thánh Thiện tin vững chắc, tuyên xưng và dạy rằng tất cả những ai bên ngoài Giáo hội Công Giáo, không chỉ dân ngoại mà kể cả dân Do thái hay lạc giáo đồ và ly giáo đồ, đều không thể hưởng ơn hằng sống mà phải vào ngọn lửa vĩnh cửu vốn dành cho quỷ dữ và thiên thần của hắn ta, trừ khi họ gia nhập Hội Thánh trước lúc lâm chung; rằng sự thống nhất của thân thể Giáo hội quan trọng đến mức chỉ những ai bền vững ở bên trong thi hành các bí tích đóng góp vào ơn cứu rỗi, chay tịnh, bố thí và các việc thể hiện sự thành kính, việc quân Kitô giáo mới sản sinh phần thưởng vĩnh hằng; rằng không ai được cứu độ, vô luận lượng tài sản làm thiện nguyện, hay kể cả đổ máu vì danh Chúa Kitô, trừ khi người ấy được bảo toàn giữa lòng và sự thống nhất của Giáo hội Công Giáo.” “Ngoài Giáo hội Công giáo không có ơn cứu độ” là một tín điều được minh định. Phanxicô không thuộc về Giáo hội Công giáo thật sự. Ông ta là người đứng đầu của giáo phái hậu Công đồng Vaticanô II, một Giáo hội giả mạo trong thời kỳ mạt thế, Con Điếm thành Babylon. Xét đến những lạc giáo mà ngụy Giáo hoàng Phanxicô đã ủng hộ, thì việc xem ông ta như một tín hữu đã an nghỉ và/hoặc cầu nguyện cho ông sau khi chết chính là biểu hiện của một đức tin lầm lạc. Nhưng thực tế chúng ta thấy sao? Có rất nhiều người trong giáo phái hậu Vaticanô II tự nhận là Công giáo đang cầu nguyện cho tên chối đạo Phanxicô, và vi phạm giáo huấn Công giáo. Ngay cả nhiều người tự nhận là “truyền thống” cũng đang làm điều tương tự. Họ đã sa vào lạc giáo. Họ không còn giữ vững đức tin Công giáo và sự trung thành với giáo huấn chính thống của Giáo hội. Họ phạm tội khi cầu nguyện cho ông ta; hơn thế nữa, khi kêu gọi người khác cầu nguyện cho ông ta, họ đang dẫn dắt người khác vào con đường tội lỗi.
Tuy nhiên, họ đang dẫn dắt mọi người vào một niềm tin sai lầm là ta có thể chấp nhận mọi tôn giáo mà vẫn được lên Thiên Đàng. Không, điều đó không đúng.
Giáo phái Vaticanô II, như lời tiên tri, chính là Con Điếm thành Babylon của thời kỳ mạt thế – một Giáo hội giả mạo. Con Thú chính là Đế quốc lã mã ngoại giáo đã hồi sinh, nay ẩn mình dưới danh nghĩa Giáo hội.
Đây là lí do nhiều người tỏ ra kinh ngạc và chấn động trước những gì diễn ra tại Rôma trong giai đoạn này – như được tiên tri.
Có rất nhiều bằng chứng rõ ràng và mạnh mẽ để chứng minh điều này. Không chỉ là sự thật rằng các ngụy Giáo hoàng sau Vaticanô II đã công khai ủng hộ và lan truyền ngoại giáo, mà còn là sự ứng nghiệm của lời tiên tri trong Sách Khải Huyền. Con Thú, biểu tượng cho La Mã ngoại giáo, sẽ trở lại khi năm trong số bảy vị vua gắn với thành phố bảy ngọn đồi, đã qua đời, và vị vua thứ sáu, đang trị vì. Đó chính xác là điều đã xảy ra. Trong triều đại của Ngụy Giáo hoàng Gioan Phaolô II, vị vua thứ sáu của Thành quốc Vatican, Con Thú – La Mã ngoại giáo – đã tái xuất hiện. Sự trở lại này diễn ra đồng thời với sự trỗi dậy của một “đế quốc” mới ở châu Âu (EU), và khi một “vị vua ngoại giáo” ở Rôma rao giảng rằng “mọi người đều là thiên chúa hay thần linh” và cổ vũ việc thờ ngẫu tượng – tức Gioan Phaolô II. Ngoài việc thúc đẩy thờ ngẫu tượng và ngoại giáo, chúng tôi cũng chứng minh rằng Ngụy Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã tuyên bố rằng mọi người đều có bản chất thần linh ngay tại Đền Thờ Vatican. Bằng việc này, ông đã tự nhận mình là thần linh, giống như các hoàng đế ngoại giáo Rôma xưa. Gioan Phaolô II, trong Buổi tiếp kiến chung, ngày 22 tháng 2 năm 1984, đã nói: “Chìa khóa Nước Trời không được trao cho Phêrô và Giáo hội để sử dụng tùy tiện hoặc thao túng lương tâm, mà để các lương tâm được giải thoát trong sự thật trọn vẹn về con người, tức là Đức Kitô…” Ông cũng nói: “Thực ra, tên gọi đúng cho sự kinh ngạc sâu xa trước giá trị và phẩm giá con người ấy chính là Tin Mừng, nghĩa là: Tin Vui. Nó cũng được gọi là Kitô giáo.” Trong bài giảng đầu tiên tại Đền Thờ Vatican, ngày 22 tháng 10 năm 1978, Gioan Phaolô II tuyên bố: “Người là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” và nhấn mạnh rằng những lời này cần được tuyên xưng và lắng nghe: “Người là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống.” Đây là lời tuyên xưng đức tin của Giáo hội và là chân lý mới, chân lý tối hậu về con người: Con Thiên Chúa hằng sống – “Người là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống.” Gioan Phaolô II đã nhiều lần tiếp tục rao giảng một giáo lý phản Kitô suốt thời kỳ làm ngụy Giáo hoàng. Điều này tạo ra một nét tương đồng rõ rệt, cả về mặt chính trị lẫn thiêng liêng, giữa Rôma dưới triều đại của Ngụy Giáo hoàng Gioan Phaolô II (vị vua thứ sáu) và Rôma thời ngoại giáo.
Gioan Phaolô II chính là hiện thân của hình tượng con thú đó. Ông đã thật sự bị “thương” trong bối cảnh của sự lừa dối này, đúng như lời tiên tri. Danh Thiên Chúa bị loại khỏi bản hiến pháp của Liên minh châu Âu Hóa thân thành hình tượng của con thú, cuộc đời của Gioan Phaolô II cũng phản ánh điều đã xảy ra với con thú. Tương tự như cách La Mã ngoại giáo bị “thương” bởi châu Âu Kitô giáo và hồi phục, Gioan Phaolô II – người đại diện cho sự trỗi dậy đó – chính bản thân ông cũng từng bị thương và sau đó được chữa lành. Tượng của ông được vinh danh ngay trong Đền Thờ thánh Phêrô, như đã được tiên tri. Việc hình tượng ông ta được vinh danh – tức sự phong “thánh” cho Ngụy Giáo hoàng Gioan Phaolô II, người phạm nhiều tội lỗi nghiêm trọng – đã khiến nhiều người trong Giáo hội Vaticanô II bị lừa dối, thông đồng (và vẫn tiếp tục thông đồng) trong nhiều tội trọng chống lại đức tin mà ông ta đã phạm.
Đó cũng là lý do tại sao sự kiện khét tiếng nhất minh chứng cho việc ngoại giáo – tức Con Thú – quay trở lại châu Âu, thay thế châu Âu Kitô giáo, chính là cuộc gặp liên tôn tại Assisi do Ngụy Giáo hoàng Gioan Phaolô II tổ chức vào ngày 27 tháng 10, năm 1986. Ngày 27 tháng 10 cũng là ngày Constantinô nhận được dấu hiệu sẽ chinh phục La Mã ngoại giáo. Hãy suy ngẫm: Ngày 27 tháng 10, năm 312, dấu hiệu cho việc chinh phục Con Thú, tức đế quốc La Mã ngoại giáo, được trao cho vị vua La Mã, Constantinô. Và dấu hiệu khét tiếng nhất cho thấy việc Con Thú hay đế quốc La Mã ngoại giáo đã trở lại châu Âu được trao bởi vị vua La Mã, Gioan Phaolô II (vị vua thứ sáu), vào ngày 27 tháng 10, năm 1986. Đây không chỉ đơn thuần là sự trùng hợp. Trong ngày đó, Gioan Phaolô II nhiều lần gọi sự kiện tại Assisi là một “dấu hiệu” – tương tự như dấu hiệu ngày 27 tháng 10 năm 312.
Thêm vào đó, trong Đế quốc La Mã ngoại giáo, có một tế đài nổi tiếng dành cho hòa bình, gọi là Ara Pacis – Tế đài cho Hòa bình. Bách khoa toàn thư về Đế quốc La Mã – Trang 30 ghi rằng:
Và tại Assisi – nơi diễn ra dấu hiệu nổi bật nhất về sự hồi sinh của ngoại giáo tại châu Âu – ta đã thấy gì? Bàn thờ nơi diễn ra các nghi lễ thờ ngẫu tượng và ngoại giáo có chữ “hòa bình” khắc trên đó. Đây chính là Ara Pacis mới – Tế đài Hòa bình mới – trong Con Thú được hồi sinh. Còn nhiều điềm báo khác nữa chứng minh rõ rằng Con Thú chính là La Mã ngoại giáo. Chẳng hạn, trong Đế quốc La Mã ngoại giáo, theo nghi lễ tôn sùng hoàng đế tại Rôma, một hoàng đế chỉ được chính thức nhận sự thờ kính – hay được “phong thần” – sau khi ông đã qua đời. Theo Ittai Gradel trong “Emperor Worship and Roman Religion,” (Nhà xuất bản Đại học Oxford, 2002), Chương 4:
Đây là một phần của nghi thức “phong thần.” Grant R. Osborne, trong “Khải Huyền” (Baker Academic, 2002, tr. 491), ghi nhận:
Quy trình này diễn ra khi người kế vị tiến cử hoàng đế đã qua đời, nhưng Viện Nguyên lão mới là cơ quan hợp thức hóa hoặc hoàn tất việc ‘phong thần’. Steven J. Friesen trong “Imperial Cults and the Apocalypse of John” (Oxford Univ. Press, 2001, tr. 28) cho biết: “… hệ thống divus của La Mã thần thánh hóa các hoàng đế tốt sau khi họ qua đời bằng một cuộc bỏ phiếu của Viện Nguyên lão.” Sự trở lại của Con Thú với Gioan Phaolô II cũng diễn ra tương tự. Ngụy Giáo hoàng Biển Đức XVI, người kế vị Gioan Phaolô II, đã bắt đầu tiến trình tôn kính ông ta. Biển Đức XVI là vị vua kế nhiệm, và cũng là một vị vua ngoại giáo. Ông đã trị vì trong một khoảng thời gian ngắn – đúng như sách Khải Huyền đã nói về vị vua thứ bảy. Chính ông đã “phong chân phước” cho Gioan Phaolô II, một bước tiến đến việc phong thánh. Tương tự như trong Đế quốc La Mã, Biển Đức XVI, vị vua kế vị, đã khởi đầu đầu tiến trình nhưng không hoàn tất điều đó. Việc hoàn tất thuộc về “Viện Nguyên lão” – một cơ quan không phải là vương quyền trong đế chế này. Đây là thời điểm Ngụy Giáo hoàng Phanxicô xuất hiện. Phanxicô kế nhiệm Biển Đức XVI, nhưng điều quan trọng là ông ta không phải là một vị vua. Có bảy vị vua-linh mục của Quốc gia Thành Vatican – một nền quân chủ linh mục.
Vì sao Phanxicô không được xem là một vị vua? Chúng tôi đã giải thích chi tiết hơn trong các video khác, nhưng có hai lý do chính: Thứ nhất, không giống Biển Đức XVI và những người tiền nhiệm, Phanxicô không phải là một linh mục hợp lệ. Ông được “truyền chức” theo nghi thức mới không thành sự, do Ngụy Giáo hoàng Phaolô VI ban hành. Do đó, ông ta không đủ điều kiện để thượng vị trong một nền quân chủ linh mục. Ông ấy tự xem mình chỉ là một giám mục, chứ không phải một vị vua.
Thứ hai, Phanxicô công khai từ bỏ mọi yếu tố thuộc về vương quyền, chấm dứt mọi nghi ngờ về vấn đề này. Thiên Chúa cho phép ông ta làm như vậy để phân biệt rõ Ngụy Giáo hoàng Phanxicô với Biển Đức XVI – vị vua cuối cùng trong bảy vị vua, dù cả hai đều là ngụy Giáo hoàng. Bảy vị vua trong Khải huyền chính là bảy vị vua của Thành Quốc Vatican, từ Giáo hoàng Piô XI đến Ngụy Giáo hoàng Biển Đức XVI.
Đó là lý do vì sao ngai vị của Giáo hoàng Piô XI, vị vua đầu tiên, được công bố chính thức vào ngày 11 tháng 2 năm 1929, và Biển Đức XVI, vị vua thứ bảy và cuối cùng, tuyên bố từ nhiệm vào ngày 11 tháng 2 năm 2013, với hai tia sét đánh trúng đỉnh Đền Thờ Thánh Phêrô ngay sau đó.
Sự trùng hợp về ngày tháng – cả hai sự kiện đều diễn ra vào thứ Hai, ngày 11 tháng 2 – không đơn thuần là ngẫu nhiên. Đó là dấu chỉ của sự khởi đầu với vị vua đầu tiên và kết thúc với vị vua thứ bảy. Phanxicô được nhìn nhận như một thực thể không mang vương quyền, tượng trưng cho sự quay trở lại của La Mã ngoại giáo – tương tự Viện Nguyên lão trong Đế quốc La Mã xưa. Ông đã hoàn tất tiến trình tôn kính tên Phản Kitô, hay vị “vua” La Mã ngoại giáo đã qua đời, Gioan Phaolô II, giống như cách mà Viện Nguyên lão La Mã từng thực hiện nghi thức “phong thần” cho các hoàng đế ngoại giáo đã chết. Theo Henry Fairfield Burton trong “The Worship of the Roman Emperors” (Đại học Chicago, 1912):
Đó chính xác là những gì đã diễn ra. Đây là lý do mà ta chứng kiến vô vàn những điều kỳ dị trong giáo phái Vaticanô II. – Con Thú, hay La Mã ngoại giáo, đã quay trở lại. Tiến trình phong thánh Công giáo đích thực không có gì không tốt, nhưng những gì đang diễn ra là một sự nhạo báng thời mạt thế đối với nghi thức phong thánh thật sự, thực hiện bởi Con Điếm Thành Babylon. Cũng vì lý do này mà sự kinh ngạc và ngỡ ngàng thực sự bắt đầu dưới thời Ngụy Giáo hoàng Phanxicô. Ai cũng nhớ rằng gần như mỗi tháng (thậm chí mỗi tuần), ông ta thực hiện các hành động gây sốc đến mức ngay cả những người trong phái Vaticanô II cũng phải ngỡ ngàng! Thật sự mà nói – chuyện quái gì đang diễn ra vậy? Nghi thức bộ lạc ngoại giáo được tổ chức trên vùng đất thánh, trước sự hiện diện của Đức Chúa trong Bí tích Thánh Thể, ngay trong các thánh đường linh thiêng và tại trung tâm của Công giáo toàn cầu – Đền Thờ Thánh Phêrô – tất cả dưới sự giám sát của đức Giáo hoàng. Họ bỡ ngỡ bởi những gì đang diễn ra tại Rôma. Đây chính là sự ứng nghiệm của lời tiên tri về sự “kinh ngạc và ngỡ ngàng” khi Con Thú trở lại. Và không chỉ có các độc giả Công giáo mới bàng hoàng:
Điều đáng chú ý là Ngụy Giáo hoàng Phanxicô, người tượng trưng cho sự trở lại của La Mã ngoại giáo theo rất nhiều mặt, đã qua đời vào ngày 21 tháng 4 – ngày truyền thống gắn liền với sự thành lập của thành Rôma.
Chúng tôi không cho rằng đó là sự trùng hợp ngẫu nhiên. Trong Đế quốc La Mã, nhiều hoàng đế đã qua đời cũng được phong thần, chứ không chỉ một. Giáo phái Vaticanô II, mà là hiện thân cho sự hồi sinh của La Mã ngoại giáo dưới thời Ngụy Giáo hoàng Phanxicô, đã “phong thánh” cho nhiều ngụy Giáo hoàng, những người cũng là các vua LaMã ngoại giáo, như: Ngụy Giáo hoàng Gioan Phaolô II, Phaolô VI, Gioan XXIII. Điều này được thực hiện với tốc độnhanh đến mức gây ngạc nhiên ngay cả bên trong nội bộ giáo phái Vaticanô II. Họ không nhận ra điều gì thực sự đang diễn ra: La Mã ngoại giáo đang quay trở lại, dưới dáng vẻ của Giáo hội. Và sự tương đồng giữa hai việc là cực kỳ ấn tượng. Nhận thức điều này giúp chúng ta giải thích toàn bộ cuộc khủng hoảng Vaticanô II và thực tế mà chúng ta đang phải đối mặt.
Giáo hội Công Giáo đích thực vẫn tồn tại nhưng đã thu hẹp thành chỉ một tàn dư. Vì vậy, việc bầu chọn thêm bất kỳ ngụy Giáo hoàng nào khác không thay đổi sự thật về việc ảnh tượng của Con Thú được tôn kính, tên Phản Kitô, hay Con Điếm Thành Babylon. Nếu họ tiếp tục bầu chọn một ngụy Giáo hoàng nữa, người đó chỉ sẽ tiếp tục lan truyền tôn giáo Vaticanô II và việc tôn kính những kẻ chối đạo đã qua đời.
Sự ứng nghiệm của những lời tiên tri tại Rôma thực sự chứng minh thêm rằng Công giáo là đức tin chân thật duy nhất. Vatican chính là Đền Thờ Thiên Chúa , mà đã bị chiếm giữ bởi các ngụy Giáo hoàng trong thời mạt thế. Sự lừa dối trong thời mạt thế là một nỗ lực lôi kéo những ai tự nhận là Công giáo vào một Giáo hội giả. Điều này vì đức tin Công giáo truyền thống là đức tin chân thật duy nhất. Những ai nghĩ rằng họ đang trung thành với Giáo hội bằng cách tuân phục các ngụy Giáo hoàng Vaticanô II thực ra đã bị đánh lừa. một cách nghiêm trọng. Họ đang tuân theo một Giáo hội giả mạo trong thời mạt thế. Hơn nữa, vì Gioan Phaolô II đã tuyên bố mình là thần linh, những ai chấp nhận ông ta như một vị thánh không chỉ đồng lõa với sự thờ ơ tôn giáo và các tội trọng liên quan, mà còn đồng ý với tuyên bố rằng ông – và mọi người – đều là Thiên Chúa. Do đó, việc phong thánh cho ông phản chiếu trực tiếp nghi thức “phong thần” ngoại giáo dành cho hoàng đế La Mã cổ đại. Vì những lý do đó, Gioan Phaolô II được coi như tên Phản Kitô và là hình ảnh của Con Thú. Giáo hội Công Giáo dạy rằng những người rơi vào lạc giáo không còn là thành viên của Giáo hội và bị cấm đảm nhận chức Giáo hoàng bởi thần luật.
Không một ‘hồng y’ nào của giáo phái Vaticanô II đủ điều kiện hợp lệ để được bầu chọn làm Giáo hoàng. Ứng viên hàng đầu cho chức Giáo hoàng nói di sản của Phanxicô phải được tiếp nối Hồng Y Dolan tham dự buổi cầu nguyện Shabbat tại khu Upper East Side để bày tỏ tình đoàn kết với cộng đồng Do Thái Họ đều là những kẻ lạc giáo khủng khiếp chấp thuận các lạc giáo trong Vaticanô II, đại kết, tham gia việc thờ phượng không Công giáo, tin rằng có ơn cứu độ ngoài Giáo hội, trong hiệp thông với các phái lạc giáo,…
Những người này không phải là Công giáo, và bất kỳ “hồng y” nào mà họ bầu chọn cũng sẽ chỉ là một ngụy Giáo hoàng. Chúng tôi sẽ tiếp tục trình bày nhiều điều khác trong các tài liệu và video sắp tới, nhưng nội dung trên là đủ cho video này.
Nếu ta muốn trở thành người Công giáo thật sự và được cứu rỗi, ta phải là người Công giáo truyền thống, như các tài liệu của chúng tôi đã giải thích. |
Về việc Phanxicô qua đời, việc đánh mất đức tin & bức tranh lớn hơn
Tháng 1 5, 2026
CHO XEM NHIỀU HƠN












